CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - TP. BUÔN MA THUỘT

VÌ SỰ NGHIỆP MƯỜI NĂM TRỒNG CÂY, VÌ SỰ NGHIỆP TRĂM NĂM TRỒNG NGƯỜI HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Gốc > Sáng tác > Trang giáo viên >

Luận về Sự Học ngày nay.

luanvesuhoc

 

Luận về Sự Học ngày nay.

                           Tản mạn – Hoài Nguyễn

I. Một thoáng ...ba tư năm.

 

Cách đây mấy ngày, tình cờ đọc được tâm sự của cô giáo Nguyễn Thị Tuyết, Trường THCS Chu Văn An –  quận Thanh Khê – Đà Nẵng viết trên trang web Violet của cô, tôi đã cảm thấy rất buồn cho số phận của nhà giáo chúng tôi. Những người hy sinh thầm lặng để dạy cái chữ, cái đẹp của văn hóa và truyền cái đạo lý làm người cho bao thế hệ. Có nhà giáo đã từng dạy dỗ cho cả hai thế hệ Cha ( Mẹ ) và Con...Thế nhưng, thật đau lòng khi  cô phải đối mặt với những “siêu” phụ huynh và có những học trò ngổ nghịch hay gọi một từ ngữ nào đó cho tương thích... đòi đốt cả nhà cô giáo của mình!!!

Rồi mới đây, chỉ vì hai học sinh nữ lớp 8 đánh trọng thương một bạn gái khác, Thầy Hiệu trưởng Ngô Đức Bình của Trường THCS Lê Lai – quận 8 – TP.HCM bị phê phán là :“ ... không làm tròn chức năng của một hiệu trưởng, không dạy được học sinh cá biệt. ..”  khiến thầy cảm thấy mình quá sức, và đành lòng phải ra đi dù rằng còn đến 3 năm nữa mới được “quyền” nghỉ ngơi.

Tôi rất cảm phục hai nhà giáo nêu trên, và cảm nhận rằng họ là những nhà giáo có lòng tự trọng, là những “ Kẻ Sĩ”  thời đại @ này. Và còn biết bao nhiêu nhà giáo như thế đang ẩn danh đâu đó trong cuộc đời này mà với nhà giáo chúng tôi cũng chỉ là những hạt cát mong manh giữa bụi trần ai này.

Tôi cũng giống như nhà giáo trên, tuổi đời và tuổi nghề khá nhiều, nhiều đủ để mà chiêm nghiệm cái phải trái, nhiều đủ để tích lũy được bao nhiêu bài học và đao lý của nhân sinh.

Sau năm 1975, chúng tôi chọn dạy học làm nghề nghiệp của mình và hoàn toàn không một chút nghĩ suy rằng nhờ nghề này mà thăng tiến trong xã hội. Đơn giản chỉ vì yêu cầu của đất nước sau khi hòa bình lập lại, cần có những “người biết chữ dạy người chưa biết chữ...”.  Thời bao cấp làm gì có “gạo trắng nước trong ” như ngày nay. Thế nhưng nhà giáo lúc ấy thấy thanh thản, lãng mạn hơn bây giờ nhiều.

Cha mẹ học sinh và cả các em yêu quí người thầy thật sự và dường như không chút vụ lợi. Nhiều kỷ niệm đẹp về một khoảng đời dạy học ở Gia Nghĩa, cái thị trấn heo hút xa lắc xa xa lơ của tỉnh Dak Lak mà ngày xưa cũng từng là một thị xã của tỉnh Quảng Đức cũ.

Chỉ vì tin rằng “ Gia Nghĩa đẹp không thua gì Đà Lạt “ mà năm anh em chúng tôi lúc đó ba lô, khăn gói tình nguyện lên đó dạy học và đến nơi sau gần ngày trời trên chiếc xe cà tàng cũ rích thời thế chiến II để lại mà có lúc phải nằm giữa rừng... chúng tôi mới thấy mình chưng hửng và bị  ... lừa!

Nhưng rồi những ánh mắt của lớp học trò thuở ấy nó da diết làm sao và gắn bó chúng tôi có người hầu như ở lại đó luôn đến tận ngày nay.

Hơn ba mươi năm mà như là cổ tích. Thời ấy chúng tôi còn quá trẻ để mà chiêm nghiệm như ngày nay. Mà lúc đó cuộc đời nhà giáo chúng tôi thật vô tư lự. Giữa thầy cô và gia đình các em là một tình cảm chân thành và thật lòng quí mến. Cứ đến ngày giỗ chạp, hầu như cha mẹ các em đều nhớ đến chúng tôi, và trong suy nghĩ và tình cảm của họ muốn “cải thiện” đời sống chúng tôi vì biết chúng tôi ăn uống rất kham khổ. Trong từng đêm sau hơn ba mươi năm, tôi vẫn cứ nghe văng vẵng như trong mơ lời bà chủ quán phở Hương Giang  gốc người Huế nay đã quá cố: “ bây đâu, làm cho quí Thầy mấy tô đặc biệt  nghe...” .  Tô “ đặc biệt” ở đây là tô phở có nhiều thịt bò hơn tô phở bình thường thôi, lẽ ra giá là 5 hào thì bà chủ quán vẫn chỉ lấy chúng tôi có 2 hào!  Thi thoảng đói quá mới xuống quán kiếm tô phở dằn bụng. Mà chúng tôi có rủng rỉnh gì đâu! Lương tháng đâu hơn năm chục đồng, trừ vào tem phiếu, lương thực còn chỉ đủ mua vài gói thuốc lá quốc doanh, uống vài buổi sáng cà phê ở quán Biên Thùy của cô Tuyết Nhung... Thế là xong. Chúng tôi bằng lòng như một sự cam chịu và chấp nhận như một định mệnh đã an bài. Và càng không bao giờ hình dung những diễn biến đến độ chóng mặt như ngày nay.

Hồi đó trong nhà trường việc học hành và  lao động cứ như trên một công trường. Tuần nào chúng tôi cũng phải đưa học trò đi trồng củ mì: loại “thực phẩm chiến lược” mà . Cứ những lần lao động như thế, thầy trò cứ như đi picnic. Mà bọn trẻ lúc đó thích đi lao động lắm. Các em nữ  thích trổ tài nấu nướng ở nhà và mang theo bày biện vào lúc cơm trưa. Các thầy thì chẳng phải dùng cơm độn bắp nhà bếp mà mới chỉ lưng chén là  đã thấy đáy nồi...

Học trò lớp đó phải nói là cực hiền và ngoan. Chúng có gì đâu mà hưởng thụ. Hầu như chúng chỉ chăm bẳm vào việc học hành, lao động giúp cha mẹ.  Em nào học hành hơi yếu thì thầy cô chúng tôi “lôi” lên trường phụ đạo cho đến khi theo kịp bạn bè. Nhiều em quí thầy, thấy thầy làm việc nhiều mà chẳng có gì ăn, lẳng lặng đi học thật sớm , vác vài quả mít chín để trước cửa phòng nội trú của thầy.  Có em con nhà buôn bán dưới chợ huyện cũng âm thầm mang ít quà bánh trái bỏ trộm vào ngăn kéo  bàn  làm việc của thầy, thầy cũng chẳng biết của em nào để mà “ mang ơn”. Có em biết thầy nghiện thuốc lá, cũng mang cho thầy vài gói thuốc Samit – loại thuốc lá ngoại cao cấp lúc đó... Các em vô tư giúp thầy và hỗ trợ thầy hoàn thành công việc của thầy mà không chút so kè, không chút toan tính. Các em tâm sự “ Bọn em chỉ mong các thầy có sức khỏe để dạy chúng em nên người sau này, và lúc đó bọn em mới thoát khỏi vùng đất nghèo khó này...”.  Những lời tâm sự của các học trò thời đó vẫn canh cánh và ám ảnh trong lòng như một món nợ ân tình phải trả của chúng tôi. Và hơn ba mươi năm qua, theo ghi nhận được của tôi thì hầu như lớp học trò ngày ấy đều thành đạt.

Cái trục giáo dục : Nhà trường - Gia đình - Xã hội  thời đó phải nói là rất khắng khít. Ở trường thầy cô toàn tâm toàn ý vào việc dạy học và giáo dục, làm gì có tư tưởng trục lợi học sinh . Cha mẹ thì  gắn bó với thầy cô, với nhà trường. Thời đó chúng tôi toàn họp phụ huynh vào ban đêm, họp dưới ánh đèn dầu nhưng không ai vắng mặt. Họ tham gia giáo dục con em họ với nhà trường hoàn toàn chủ động và thành tâm. Họ thật sự tôn trọng nhà trường. Cái đạo lý truyền thống của cha ông vẫn chưa mai một, chưa thương mại hóa như bây giờ. Xã hội thì bình yên, không xô bồ và hỗn độn tranh mua tranh bán. Cái thuở ấy sao mà bình yên đến thơ mộng và lãng mạn. Và cũng nhờ những tình cảm thầy trò, cha mẹ học sinh và xã hội bình yên mà chúng tôi  toàn tâm vào công việc của mình. Có thể nói rằng lớp học trò ngày ấy tuy chưa được hưởng thụ về văn minh, về kỹ thuật và vật chất  đầy đủ như hiện nay nhưng những thế hệ học trò lúc đó có thể nói là các em rất “ có tâm hồn”.

Ôi! Ước gì cuộc đời như những chương sách mà ta sẽ có thể lật lại những chương hay nhất để đọc để hòa mình vào trong đó. Biết bao giờ cho đến ... ngày xưa?

Hoài Nguyễn – 04.4.2010 ( còn tiếp)

 


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Văn Sang @ 17:54 26/12/2010
Số lượt xem: 885
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến